- Clipmarks
| Xuất bản phẩm ñ Tạp chí Công nghiệp Hoá chất ñ 2004 ñ Số 02 Tình hình khai thác sa khoáng titan và ziricon ở Việt Nam Việt Nam có những mỏ sa khoáng chạy dọc 3200 km bờ biển, chứa ilmenit, rutil, zircon và các khoáng kim loại nặng khác. Các mỏ ilmenit nằm rải rác từ Thanh Hóa đến Phan Thiết. Các khu vực Huế, Hà Tĩnh, Quy Nhơn và Phan Thiết có những mỏ với trữ lượng có thể khai thác một cách kinh tế. Mười năm trước đây, Việt Nam chưa có tên tuổi trên thị trường quốc tế trong lĩnh vực quặng titan, mà chỉ mới bắt đầu khai thác loại quặng này. Hiện nay một số tỉnh trong nước đang tiến hành khai thác và xuất khẩu ra nước ngoài. Sản phẩm quặng ilmenit của Việt Nam đã có tên tuổi trên thị trường quốc tế. Năm 2002 là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu sa khoáng titan sang Mỹ và đưa vào vận hành nhà máy nghiền siêu mịn, nhà máy này sẽ làm thay đổi thị trường titan ở Việt Nam. Công ty thương mại và khoáng sản Hà Tĩnh (Mitraco Hà Tĩnh) là nhà sản xuất sa khoáng titan lớn nhất trong nước. Năm 2002 Công ty đã ký hợp đồng xuất khẩu với Công ty Dupont Mỹ và xuất khẩu đợt tinh quặng ilmenit đầu tiên sang Mỹ. Công ty đang tích cực phát triển sản xuất cho thị trường mới này bằng cách đầu tư một nhà máy nghiền ziricon siêu mịn với công suất 6.000 tấn/năm. Nhà máy nghiền là nhà máy đầu tiên thuộc loại này ở Việt Nam, nó tượng trưng cho bước đột phá mở đầu của ngành sản xuất quặng titan ở Việt Nam để hướng tới thị trường các sản phẩm giá trị gia tăng. Những dự án đầu tư tương tự để sản xuất các sản phẩm bột ilmenit hiện đang được thăm dò khảo sát. Mitraco Hà Tĩnh đang có kế hoạch xây dựng nhà máy mới trị giá 150 - 200 triệu USD tại Hà Tĩnh, dự kiến năm 2007 sẽ đi vào hoạt động. Các nhà sản xuất khác cũng có những kế hoạch tương tự, ví dụ Công ty khoáng chất Bình Định (Bimico) đang chuẩn bị nghiên cứu khả thi dự án nhà máy trị giá 5 triệu USD, cách Quy Nhơn 60 km, để sản xuất bột ilmenit cho thị trường bột màu. Hiện nay, các nhà sản xuất tiếp tục đầu tư ngày càng nhiều để nâng cấp thiết bị xử lý quặng. Việt Nam đã thay thế Malayxia để trở thành nhà xuất khẩu ilmenit lớn nhất vào thị trường Nhật Bản, với khối lượng xuất khẩu khoảng 120.000 tấn/năm. Nhưng Việt Nam cũng đang xem xét chuyển hướng từ việc thuần túy xuất khẩu quặng sang đầu tư vào các công nghệ xử lý để sản xuất bột màu hoặc bột quặng. Hiện nay, chỉ một lượng rất nhỏ quặng titan (3.000 - 5.000 tấn/năm) được tiêu thụ trên thị trường trong nước, được sử dụng chủ yếu để sản xuất que hàn. Tuy nhiên, cho đến khi thị trường nội địa phát triển đủ mạnh thì các thị trường xuất khẩu vẫn sẽ là trọng tâm hoạt động của ngành khai thác và sản xuất quặng titan ở Việt Nam. Việc hướng tới thị trường xuất khẩu cũng có nghĩa là các sản xuất phải nâng cao chất lượng sản phẩm, ở đây chủ yếu là giảm hàm lượng tạp chất. Một số khách hàng chấp nhận hàm lượng TiO2 ở mức 51%, nhưng họ đòi hỏi hàm lượng tạp chất phải rất thấp. Các công ty khai thác sản xuất ilmenit lớn trong nước là: Công ty Địa điểm Công suất (tấn/năm) - Mitraco Hà Tĩnh Hà Tĩnh 100.000 - Công ty LD Bimal Quy Nhơn 50.000 - Humexco Huế 32.000 - Bimico Quy Nhơn 30.000 - Công ty khoáng sản - Công ty khoáng sản Ngoài các công ty nêu trên, còn một số công ty địa phương quy mô nhỏ, với tổng công suất khoảng 270.000 tấn/năm. Năm 2002, Mitraco đã xử lý trên 151.000 tấn khoáng chất công nghiệp, kể cả ilmenit, rutil và ziricon. Dự kiến năm 2003 Công ty sẽ tiếp tục tăng trưởng với mục tiêu xuất khẩu 143.800 tấn khoáng chất, trong đó có 115.000 tấn ilmenit, 7.000 tấn ziricon, 1.800 tấn rutil và 20.000 tấn quặng mangan. Công ty đang tiếp tục đầu tư vào thiết bị khai thác và mở rộng các mỏ. Đặc biệt, sản xuất quặng mangan sẽ tăng từ 20.000 tấn/ năm hiện nay lên đến 60.000 tấn/năm. Ziricon là sản phẩm đi kèm trong sản xuất quặng titan. Những vùng sản xuất ziricon chính tại Việt Nam là Hà Tĩnh và Huế, nơi quặng có hàm lượng ziricon đến 20%. Tại Quy Nhơn, quặng chỉ có hàm lượng ziricon 3 - 5%. Mitraco cũng đã xây dựng nhà máy đầu tiên ở Việt Nam sản xuất ziricon. Hiện Công ty đang sản xuất sản phẩm ziricon với hai cấp chất lượng: bậc 1 có cỡ hạt 0,1 - 5 mm, được xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc, Malayxia để sản xuất đồ sứ thông thường và gốm sứ cách điện. Bậc 2 có cỡ hạt 5 - 10 mm. Cả hai bậc đều có hàm lượng TiO2 dưới 0,012% và đều đạt sản lượng khoảng 4000 tấn/năm. Công ty Bimal Bimico và Công ty liên doanh Bimal đang khai thác quặng ở mỏ Đề Gi phía Bắc Quy Nhơn. Nhà nước giữ 60% cổ phần trong công ty Bimal. Mỏ Đề Gi bắt đầu được khai thác từ cách đây 7 năm, công nghệ khai thác rất đơn giản, chỉ sử dụng máy xúc để xúc cát lên xà lan đưa đi xử lý. Người ta đưa nước vào cát, bơm cát qua thiết bị tách hình côn và một dãy các thiết bị tách hình xoắn ốc. Sau đó tinh quặng 5 - 10% ziricon được đưa đi sấy, quặng đuôi được quay vòng trở lại. Các đây vài năm, nhà máy tách ướt cố định được thay thế bằng một phân xưởng cơ động với cùng công suất. Phân xưởng này di chuyển mỗi năm một lần theo tiến độ khai thác. Bimal là công ty đầu tiên ở Việt Nam sử dụng thiết bị khai thác hình xoắn ốc. Trước đó, người ta làm việc theo phương pháp thủ công, sử dụng thiết bị tách kiểu bàn nước. Tại nhà máy sấy quặng Quy Nhơn, quặng ướt được bơm lên sân và để khô nhờ tác dụng của ánh nắng. Năm nay nhà máy lắp đặt máy sấy để giảm lượng quặng sấy nhờ ánh nắng. Nguyên liệu TiO2 được nạp vào máy sấy kiểu trống quay để giảm hàm lượng ẩm xuống còn 0,5%, tại đó nguyên liệu được đi qua một sàng rung. Công đoạn tách từ tính đầu tiên sản xuất ra ilmenit bậc 1, tiếp theo là công đoạn tách từ tính thứ hai cho ra ilmenit bậc 2, sản phẩm trung gian và bã thải. Sản phẩm trung gian được cho đi qua bàn không khí để tách bã thải, thu được rutil, ziricon và hỗn hợp monazit. Công đoạn tách từ tính thứ ba cho ra tất cả những bậc khác của sản phẩm ilmenit, hỗn hợp còn lại đi qua máy tách điện tấm để tách toàn bộ ziricon và đi qua máy tách điện áp cao để tách riêng rutil và monazit. Tháng 2 - 2003, nhà máy tuyển quặng Quy Nhơn đã lắp đặt thiết bị xử lý mới thay cho lao động thủ công. Trước đây, ở công đoạn này mỗi ca cần 20 công nhân thì nay chỉ còn cần 2 - 3 công nhân, đồng thời công suất cũng tăng lên. Mỗi phân xưởng sấy có công suất xử lý 1.500 tấn/tháng, tổng công suất đạt 36.000 tấn/năm. Sản lượng hiện nay đạt khoảng 2.400 tấn /tháng. Sản phẩm ilmenit hoàn thiện được chở đến cảng Quy Nhơn để đưa đi xuất khẩu. Sản phẩm ilmenit bậc 2, với hàm lượng TiO2 thấp hơn 50%, cũng được xuất khẩu sang Trung Quốc./. THẾ NGHĨA Theo Industrial Mineral 2003 |
Được đăng bởi
ActiveGroup
tại
10:55 PM
No comments:
Post a Comment